THUỐC KHÁNG SINH VÀ KHÁNG NẤM

2 min read
Thư viện tài nguyên

Note: The information in this article is for reference only and does not replace professional medical advice. Please consult your doctor.

Chi tiết về thuốc kháng sinh và kháng nấm sử dụng trên lâm sàng hiện nay

Tài liệu: Xem / Tải tài liệu

Kháng sinh và kháng nấm là hai nhóm thuốc quan trọng trong điều trị các bệnh nhiễm trùng ở người. Kháng sinh là thuốc được dùng để tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Từ khi penicillin được phát hiện vào năm 1928, kháng sinh đã trở thành bước ngoặt lớn trong y học hiện đại. Các nhóm kháng sinh chính bao gồm: Beta-lactam (penicillin, cephalosporin, carbapenem, monobactam): ức chế tổng hợp thành tế bào vi khuẩn. Aminoglycosid (gentamicin, amikacin): gắn vào ribosome, ức chế tổng hợp protein. Macrolid (erythromycin, azithromycin, clarithromycin): ức chế tổng hợp protein. Tetracyclin (doxycyclin, minocyclin): kìm khuẩn bằng cách ngăn ribosome hoạt động. Fluoroquinolon (ciprofloxacin, levofloxacin): ức chế enzym DNA gyrase và topoisomerase IV. Sulfonamid và trimethoprim: ức chế tổng hợp acid folic, cần thiết cho sự phát triển vi khuẩn. Kháng nấm là thuốc dùng để điều trị các bệnh do nấm gây ra, thường khó điều trị hơn vi khuẩn vì tế bào nấm có cấu trúc tương tự tế bào người.

Các nhóm chính gồm: Polyen (amphotericin B, nystatin): gắn vào ergosterol màng tế bào nấm, làm rò rỉ ion. Azol (ketoconazol, fluconazol, itraconazol, voriconazol): ức chế tổng hợp ergosterol. Echinocandin (caspofungin, micafungin): ức chế tổng hợp β-glucan, thành phần quan trọng của thành tế bào nấm. Allylamin (terbinafin, naftifin): ức chế sớm quá trình tổng hợp ergosterol. Khác: flucytosin (ức chế tổng hợp acid nucleic).

About the author

TP
Ts. Phạm Thị Vân Anh